13. Sớ Hoàn Kinh II
(Bát Nhã Vị Trung)
Nguyên văn:
伏以
般若位中、四相皆從於兔角、祇園會上、一乘懸引于牛車、闡之則省人物悟、聞之聲衆信超倫、若人四句受持、遍滿三千布施、願舒蓮眼之光明、俯鑒葵情之悃念。拜疏爲越南國...省...郡...社...寺奉
佛修香諷經...事。今...寺(弟子)...等。維日香焚戒定、花献蔓陀、仰干蓮眼之尊、俯鑒葵情之懇。言念、弟子等叨生塵世、幸得人倫、荷佛法護念之恩、感祖澤鐘靈之德、四恩撫育虧酬、寸念無由、可答長淹歲月、沒後蹉跎、茫茫火宅以煎熬、滚滚愛河難脫免、知身是苦、悟世非堅、遍回於六趣之中、輾轉於四生之內。茲者辰維...月、節屬...天、莊嚴海會、經開...晝之道塲、靉靆檀烟、香滿十方之世界、諷誦...經、加持...呪、頂禮
三身寶相、萬德金容、集此殊勳、祈增福慧。今則謹具完滿疏文、和南拜白。
南無常住三寶...伏願、幸逢
佛法、廣開方便之門、預入尊風、皆諳不明之路、仰賴
佛恩、証明之德。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時。弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Bát Nhã vị trung, Tứ Tướng1 giai tùng ư thố giác;2 Kỳ Viên3 hội thượng, Nhất Thừa huyền dẫn vu ngưu xa;4 xiển chi tắc tỉnh nhân vật ngộ, văn chi thanh chúng tín siêu luân; nhược nhân Tứ Cú thọ trì, biến mãn tam thiên bố thí; nguyện thư Liên Nhãn chi quang minh, phủ giám quỳ tình chi khổn niệm.
Bái sớ vị: Việt Nam quốc, ... Tỉnh, ... Quận, ... Xã, ... Tự phụng Phật tu hương phúng kinh … sự. Kim … Tự (hoặc đệ tử) đẳng, duy nhật hương phần giới định, hoa hiến Mạn Đà, ngưỡng can Liên Nhãn chi tôn, phủ giám quỳ tình chi khẩn.
Ngôn niệm: Đệ tử đẳng phao sanh trần thế, hạnh đắc nhân luân; hà Phật pháp hộ niệm chi ân, cảm tổ trạch chung linh chi đức; Tứ Ân phủ dục khuy thù, thốn niệm vô do hà đáp; trường yêm tuế nguyệt, một hậu tha đà; mang mang hỏa trạch dĩ tiên ngao, cổn cổn ái hà nan thoát miễn; tri thân thị khổ, ngộ thế phi kiên; biến hồi ư Lục Thú chi trung, triển chuyển ư Tứ Sanh chi nội. Tư giả thần duy … nguyệt, tiết thuộc … thiên; trang nghiêm hải hội, kinh khai ... trú chi đạo tràng; ái đãi đàn yên, hương mãn thập phương chi thế giới; phúng tụng … kinh, gia trì … chú; đảnh lễ Tam Thân bảo tướng, vạn đức kim dung; tập thử thù huân, kỳ tăng phước huệ. Kim tắc cẩn cụ hoàn mãn sớ văn, hòa nam bái bạch:
Nam Mô Thường Trú Tam Bảo, v.v.
Phục nguyện: Hạnh phùng Phật pháp, quảng khai phương tiện chi môn; dự nhập tông phong, giai am bất minh chi lộ. Ngưỡng lại Phật ân chứng minh chi đức. Cẩn sớ.
Phật lịch … Tuế thứ … niên … nguyệt … nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
Bát Nhã lý trong, Bốn Tướng đều quy về giả tướng; Kỳ Viên chúng hội, Nhất Thừa chuyển trọn về xe trâu; xiển dương làm tỉnh người vật ngộ, nghe âm thanh phát tín tâm xa; nếu người Bốn Câu thọ trì, biến khắp Ba Ngàn bố thí; nguyện ban mắt sen tỏa sáng trong, xét soi phàm tình bao khẩn thiết.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có chùa … thờ Phật, dâng hương tụng kinh ... Đệ tử … chúng con hôm nay, dâng hương giới định, hoa cúng Mạn Đà, trông vời mắt Thánh chiếu soi, thương chứng phàm tình khẩn thiết.
Nép nghĩ: Đệ tử chúng con, sanh nơi trần thế, được làm thân người; mang ơn Phật pháp hộ niệm sâu, cảm đức tổ tiên bao linh hiển; Bốn Ơn che chở khó đền, tấc nhớ nào quên; hầu đáp dài lâu tuế nguyệt, lần lữa qua ngày; mênh mông nhà lửa cháy sục sôi, cuồn cuộn sông thương khó thoát khỏi; biết thân là khổ, ngộ đời chẳng bền, quay về nơi Sáu Cõi thênh thang, qua lại giữa Bốn Loài lận đận. Hôm nay gặp tháng …, tiết thuộc trời …, trang nghiêm pháp hội, khai kinh đạo tràng trong … ngày, khói xông nghi ngút, hương tỏa khắp mười phương thế giới, phúng tụng kinh …, gia trì thêm chú …; đảnh lễ Ba Thân tướng báu, muôn đức dung vàng, đem công đức nầy, cầu thêm phước tuệ. Nay tất đầy đủ, hoàn mãn sớ văn, kính thành tâu lạy:
Kính lạy Thường Trú Tam Bảo….
Lại nguyện: May gặp Phật pháp, rộng mở phương tiện cửa ra; nhập vào tông phong, thảy rõ vô minh nẻo khổ. Ngưỡng trông ơn Phật, chứng minh đức cả. Kính dâng sớ.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Tứ Tướng (四相): các pháp sanh diệt, biến chuyển theo 4 tướng là Sanh (s: jāti, 生, còn gọi là Sanh Tướng [生相], tức là pháp hữu vi từ vị trí tương lai sanh đến vị trí hiện tại), Trụ (s: sthiti, 住, còn gọi là Trụ Tướng [住相], tức là pháp hữu vi an trụ ở vị trí hiện tại), Dị (s: anyathātva, 異, còn gọi là Dị Tướng [異相], tức là pháp hữu vi biến dị, suy tổn ở vị trí hiện tại), Diệt (s: anityatā, 滅, còn gọi là Diệt Tướng [滅相], tức là pháp hữu vi ở vị trí hiện tại diệt và chuyển sang vị trí quá khứ); còn gọi là Tứ Hữu Vi (四有爲), Tứ Hữu Vi Tướng (四有爲相), Tứ Bản Tướng (四本相). Theo thuyết của Tiểu Thừa Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (說一切有部), căn cứ vào Phát Trí Luận (發智論) quyển 2, Đại Tỳ Bà Sa Luận (大毘婆沙論) quyển 38, 39, Câu Xá Luận (具舍論) quyển 5, v.v., tất cả các pháp hữu vi đều chịu sự chi phối của vô thường; tuy do năng lực của nhân duyên, từ vị trí tương lai, sanh đến vị trí hiện tại, nhưng chỉ trong thoáng chốc thì tiêu diệt mà trở thành vị trí của quá khứ. Pháp hữu vi sanh diệt biến chuyển nầy lưu chuyển ở trong ba đời tương lai, hiện tại và quá khứ. Hữu Bộ thì chủ trương sát na sanh diệt, cho nên Bốn Tướng nầy đều có mặt chỉ trong một sát na. Theo thuyết của Pháp Tướng Tông (法相宗) thuộc Đại Thừa, căn cứ vào Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論) quyển 46, 51, 88, Thành Duy Thức Luận (成唯識論) quyển 2, v.v., tông phái này chủ trương “Tứ Tướng giả lập, quá vị vô thể (四相假立、過未無体, bốn tướng giả lập ra; quá khứ, vị lai không thực thể).” Nếu nói về sát na, các pháp hữu vi nương vào sức mạnh nhân duyên, do vì vốn là không nên nay có mặt; vì vậy mới gọi là Sanh. Tạm dừng ở vị trí Sanh, tức gọi là Trụ. Biến dị trước sau vị trí Trụ thì gọi là Dị. Vì tạm có rồi lại không, nên gọi khi diệt là Diệt vậy. Trong quá trình đó, ba tướng Sanh, Trụ, Dị là “có”, cùng thuộc hiện tại; tướng Diệt là “không”, thuộc về quá khứ. Bên cạnh đó, Tứ Tướng còn là 4 loại tướng do cá thể chúng sanh vọng chấp mà sanh ra, được thuyết trong Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh (金剛般若波羅蜜經) do Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch, gồm: Ngã Tướng (我相, chúng sanh trong pháp Ngũ Uẩn [s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊] lầm xem có thật ta và cái của ta), Nhân Tướng (人相, chúng sanh trong pháp Ngũ Uẩn lầm xem cái ta sanh trong cõi người là người, vốn khác với các cõi khác), Chúng Sanh Tướng (衆生相, chúng sanh trong pháp Ngũ Uẩn lầm xem cái ta nương vào Năm Uẩn, Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức hòa hợp mà sanh ra) và Thọ Giả Tướng (壽者相, chúng sanh trong pháp Ngũ Uẩn lầm xem cái ta thọ nhận một chu kỳ thọ mạng, ngắn dài không thống nhất, khác nhau tùy theo mỗi người). Ngoài ra, Tứ Tướng cũng có nghĩa là bốn tướng nhất kỳ của sanh, lão, bệnh và tử.
- Thố giác (兔角): sừng thỏ. Cụm từ “quy mao thố giác (龜毛兔角, lông rùa sừng thỏ)” là dụng ngữ Phật Giáo, thường được dùng trong Thiền Tông. Con rùa không bao giờ có lông và con thỏ chẳng khi nào mọc sừng cả; cho nên từ nầy được dùng để chỉ cho tồn tại không thể có, cái có tên mà không thật có; đặc biệt, trong các điển tịch Phật Giáo thường dùng từ nầy để chỉ cho lý của Không. Như trong Sưu Thần Ký (搜神記) quyển 6 của Cán Bảo (幹寶, ?-336) nhà Tấn có câu: “Thương Trụ chi thời, đại quy sanh mao thố sanh giác, binh giáp tương hưng chi tượng dã (商紂之時、大龜生毛兔生角、兵甲將興之象也, dưới thời vua Thương Trụ, rùa lớn có lông, thỏ mọc sừng, là tượng trưng cho binh lính sẽ hưng thịnh).” Hay trong Kim Cang Kinh Tụng (金剛經頌) có câu: “Như quy mao bất thật, tợ thố giác vô hình (如龜毛不實、似兔角無形, như lông rùa chẳng thật, giống sừng thỏ vô hình).” Hoặc trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, Taishō No. 1565) quyển 5 có đoạn: “Như hà thị Tổ Sư Tây lai ý ? Sư viết: ‘Quy mao phất tử, thố giác trụ trượng, Đại Đức tàng hướng thậm ma xứ ?’ Viết: ‘Quy mao thố giác khởi thị hữu da ?’ (如何是祖師西來意、師曰、龜毛拂子、兔角拄杖、大德藏向甚麼處、曰、龜毛兔角豈是有邪, Ý của Tổ Sư từ Ấn Độ sang là gì ? Sư đáp: ‘Lông rùa phất trần, sừng thỏ chống gậy, Đại Đức hướng nơi nào trốn vậy ?’ Đáp: ‘Lông rùa sừng thỏ liệu có thật sao ?’).” Bồ Tát Long Thọ (s: Nāgārjuna, 龍樹, khoảng 150-250) có khẳng định trong Tán Pháp Giới Tụng (讚法界頌) rằng: “Thố giác thể phi hữu, vọng chấp linh chân thật, pháp giới ly vọng chấp, vọng chấp chơn phi hữu(兔角體非有、妄執令眞實、法界離妄執、妄執眞非有, sừng thỏ thể chẳng có, chấp lầm khiến thành thật, pháp giới lìa chấp lầm, chấp lầm thật không có).”
- Kỳ Viên (祇園): tức Kỳ Viên Tinh Xá (祇園精舍), còn gọi là Kỳ Hoàn Tinh Xá (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍), là tên gọi của tinh xá nằm ở Thành Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛城), kinh đô của nước Kiều Tát La (s: Kauśala, p: Kosala, 憍薩羅) vào thời Ấn Độ cổ đại. Lúc bấy giờ, trưởng giả Tu Đạt (p: Sudatta, 須達, còn có tên là Cấp Cô Độc [給孤獨]) của Thành Xá Vệ mua khu rừng của Thái Tử Kỳ Đà (p: Jeta, 祇陀) để xây dựng tu viện cho giáo đoàn đức Phật. Tên gọi Kỳ Viên vốn phát xuất từ truyền thuyết nầy. Trưởng giả Tu Đạt là người thường bố thí vật phẩm ăn uống cho những người cô độc, nghèo nàn, cho nên nơi đây còn được gọi là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên (祇樹給孤獨園). Đức Phật đã trãi qua hơn 20 năm vào cuối đời Ngài ở tại đây, và khoảng 7, 8 phần kinh điển hiện tại đều được ngài thuyết giảng tại nơi nầy. Tuy nhiên, ngay sau khi đức Phật diệt độ thì tinh xá nầy bị suy tàn. Về sau, khi Pháp Hiển (法顯, 340?-?) và Huyền Trang (玄奘, 602-664) sang du hành ở Ấn Độ, tinh xá nầy đã hoàn toàn hoang phế. Hiện tại nó chỉ còn là di tích rất rộng lớn ở phía Nam vùng Saheṭh-Maheth thuộc tiểu bang Uttar Pradesh. Trong Phật Thuyết Văn Thù Sư Lợi Bát Niết Bàn Kinh (佛說文殊師利般涅槃經, Taishō No. 463) do Cư Sĩ Nhiếp Đạo Chơn (聶道眞) nhà Tây Tấn dịch có đoạn: “Nhĩ thời, Thế Tôn tùng Tam Muội khởi, tức tiện vi tiếu, hữu ngũ sắc quang tùng Phật khẩu xuất, thử quang xuất thời, Kỳ Hoàn Tinh Xá biến thành Lưu Ly (爾時、世尊從三昧起、卽便微笑、有五色光從佛口出、此光出時、祇洹精舍變成琉璃, lúc bấy giờ Đức Thế Tôn từ trong Tam Muội đứng dậy, bèn mĩm cười, có ánh sáng năm sắc từ trong miệng Phật phóng ra, khi ánh sáng nầy phóng ra, Kỳ Hoàn Tinh Xá biến thành ngọc Lưu Ly).” Hay như trong Trung Thiên Trúc Xá Vệ Quốc Kỳ Hoàn Tự Đồ Kinh (中天竺舍衛國祇洹寺圖經, Taishō No. 1899), phần Trung Thiên Trúc Xá Vệ Quốc Kỳ Hoàn Tự Đồ Kinh Tự (中天竺舍衛國祇洹寺圖經序) lại có đoạn đề cập đến Kỳ Viên Tinh Xá như sau: “Vãng giả Thích Tôn tại Đao Lợi Thiên, thử tượng tại điện vi chư Tỳ Kheo giáo giới thuyết pháp, nãi chí chư vương chi bất kiến Phật tư mộ Thích Ca, thử tượng vi vương tam độ thuyết pháp; Kỳ Viên sơ lập giới đàn, thành thời thử tượng lãnh tiền đồ chúng, chí giới đàn sở nhiễu tam tráp dĩ, bộ bộ giai sanh kim sắc thiên diệp Liên Hoa; mỗi thọ giới thời hoa tự nhiên khai, trung hữu thiên đồng tấu ư thiên nhạc (徃者釋尊在忉利天、此像在殿爲諸比丘敎戒說法、乃至諸王之不見佛思慕釋迦、此像爲王三度說法、祇園初立戒壇、成時此像領前徒眾、至戒壇所遶三匝已、步步皆生金色千葉蓮花、每受戒時花自然開、中有天童奏於天樂, xưa kia khi đức Thích Tôn tại Trời Đao Lợi, tượng nầy tại chánh điện vì các Tỳ Kheo mà dạy bảo, thuyết pháp, cho đến các vua không thấy được Phật, nhớ nghĩ đến Thích Ca, tượng nầy cũng vì vua thuyết pháp ba lần; lúc ban đầu, Kỳ Viên Tinh Xá mới lập giới đàn, khi hình thành, tượng nầy dẫn các đồ chúng trước đây, đến giới đàn đi nhiễu quanh ba vòng xong, từng bước đều sanh hoa sen ngàn cánh có màu vàng kim; mỗi khi thọ giới, hoa ấy tự nhiên nở ra, bên trong có thiên đồng tấu khúc nhạc trời).”
Ngưu xa (s: go-ratha, 牛車): xe trâu, tên gọi của một trong 3 xe hay 4 xe. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka, 妙法蓮華經) quyển 2, Phẩm Thí Dụ (譬喻品) có nêu ra 3 loại xe: dê, nai, trâu và Đại Bạch Ngưu Xa (大白牛車, xe trâu trắng lớn); xe trâu tỷ dụ cho Bồ Tát Thừa (s: bodhisattva-yāna, 菩薩乘). Như trong Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký Chú (釋迦如來成道記註) quyển hạ do Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường soạn, Huệ Ngộ Đại Sư (慧悟大師) ở Nguyệt Luân Sơn (月輪山), vùng Tiền Đường (錢唐) chú giải, có đoạn rằng: “Pháp Hoa Kinh Tam Xa dụ dã, Dương Xa dụ Thanh Văn Thừa, Lộc Xa dụ Duyên Giác Thừa, Ngưu Xa dụ Bồ Tát Thừa; Tam Thừa câu dĩ vận tải vi nghĩa; tiền Nhị Thừa thị phương tiện thi thiết, duy Đại Bạch Ngưu Xa thị thật (法華經三車喻也、羊車喻聲聞乘、鹿車喻緣覺乘、牛車喻菩薩乘、三乘俱以運載爲義、前二乘是方便施設、惟大白牛車是實, về thí dụ Ba Xe của Kinh Pháp Hoa, Xe Dê ví cho Thanh Văn Thừa, Xe Nai ví cho Duyên Giác Thừa, Xe Trâu ví cho Bồ Tát Thừa; cả Ba Thừa đều có nghĩa vận tải; Hai Thừa đầu là phương tiện đặt ra, chỉ có Xe Trâu Trắng Lớn là thật).” Hay trong Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Chánh Mạch Sớ (大佛頂首楞嚴經正脈疏) quyển 17 do Giao Quang Đại Sư (交光大師) nhà Minh (1368-1662) thuật, có giải thích về Nhất Thừa rằng: “Nhất Thừa giả, Nhất Phật Thừa dã; tức Pháp Hoa Đại Bạch Ngưu Xa, tịch diệt trường địa, tức bản giác quả thể, vạn vọng bản không, nhất chơn thanh tịnh (一乘者、一佛乘也、卽法華大白牛車、寂滅塲地、卽本覺果體、萬妄本空、一眞清淨, Nhất Thừa là Nhất Phật Thừa; tức là Xe Trâu Trắng Lớn của Kinh Pháp Hoa, là đạo tràng vắng lặng, tức là thể quả của bản giác, mọi hư vọng vốn không, nguồn chơn thanh tịnh).” Hoặc như trong Đại Thừa Khởi Tín Luận Liệt Cương Sớ (大乘起信論裂網疏, Taishō No. 1850) quyển 1 do Linh Phong Ngẫu Ích Sa Môn Trí Húc (靈峰蕅益沙門智旭, 1599-1655) soạn, có đoạn: “Thỉ tùng danh tự, vận chí quán hành, nãi chí cứu cánh, tự vận công tất, vận tha bất hưu, danh vi Đại Bạch Ngưu Xa, kim ngôn Đại Thừa, chánh chỉ Đại Bạch Ngưu Xa, giản phi môn ngoại Tam Xa cố dã (始從名字、運至觀行、乃至究竟、自運功畢、運他不休、名爲大白牛車、今言大乘、正指大白牛車、揀非門外三車故也, ban đầu dựa vào danh từ, vận chuyển đến quán sát và thực hành, cho đến cứu cánh; công phu tự vận chuyển mình xong, vận chuyển người khác chẳng ngừng nghỉ, đó gọi là Xe Trâu Trắng Lớn; nay nói Đại Thừa [cỗ xe lớn], chính là chỉ cho Xe Trâu Trắng Lớn; chẳng phải là ba cỗ xe ngoài cửa kia).”